Saturday, September 22 Bitcoin là gì? Có nên đầu tư vào bitcoin hay không?

image.png

TUẤT là chi thứ 11 trong 12 địa chi của tử vi Đông Phương. Tượng hình của tuổi TUẤT là con CHÓ.

Về mặt động vật học, chó là con vật thuộc loài ăn thịt, bốn chân và có vú. Chó là động vật nuôi trong nhà, tên khoa học là ‘Canis familiaris” và Canis lupus. Loài chó có rất nhiều giống, thường được loài người nuôi để giữ nhà, chăn cừu, đi săn thú và nhiều nhiệm vụ khác, đặc biệt với một số người, chó được xem như là một người bạn thân thiết… Bản tính của chó là trung thành với chủ, tận tụy với nhiệm vụ.

Thế nhưng, vị thế trên vòng Hoàng Đạo của Chó lại không giúp được gì cho con chó bình thường ở Á Đông cả. Chó tại Á Đông như Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam thường có một cuộc đời khá khốn khổ, nhiều khi vô cùng bất hạnh nếu rơi vào phận chó hoang vì lạc chủ, hoặc chủ gặp tai họa tử vong. Tuy nhiên, dù hoàn cảnh nhà chủ gặp khó khăn, khánh kiệt đói khổ đến đâu, chó không bao giờ rời bỏ chủ.

CHỮ TUẤT

Trước khi nói chuyện Chó và Người nhân năm Tuất, tưởng cũng nên biết là chữ TUẤT trong vòng hoàng đạo của Tử Vi, không có nghĩa là Chó. Trong từ điển Hán-Việt, chữ Tuất không liên quan gì tới chữ Khuyển, chữ Cẩu có nghĩa là chó và chữ “lang” là chó rừng.

CHỮ TUẤT: trong Hán văn có nhiếu nghĩa:

1/- Tuất (đọc là “tốt”): đầy tớ, người để sai bảo (tẩu tuất).

2/- Quân linh như “Binh tốt”.

3/- Tuất (động từ): kết thúc, xong, trọn, như “tuất sự” xong việc. Tuất còn có nghĩa là chết danh cho người có danh chức.. Quan đại phu chết gọi là tuất, dùng chữ “tử”.

Trong Từ Điển phổ thông chữ Hán, TUẤT gồm các nghĩa sau đây:

1/- Thương xót, vỗ về, an ủi như “liên cô tuất quả” thương xót cô nhi, an ủi quả phụ.

2/- Giúp đỡ, trợ cấp, cứu tế. Tưởng thưởng cho những người hy sinh vì nước gọi là “tử tuất” hay “tuất điển”. (Dưới thời VNCH, cô nhi quả phụ của các chiến sĩ hy sinh tại trận mạc được lãnh tiền TỬ TUẤT hàng tháng hoặc hàng quý do chinh phủ cấp)

CHỮ CHÓ

Trong Hán Văn có hai chữ có nghĩa là Chó, đó là:

1/ KHUYỂN   – bộ Khuyển (犭), chỉ chung loài chó và đặc biệt chỉ chó săn, chó chăn cừu, chó trong quân đội.

Nghĩa bóng: ý nói vị thế thấp hèn. Kẻ dưới đối với người trên có quyền thế, tự nhận mình chỉ là thân “khuyển mã” tức là chó, ngựa.

2/ CẨU: con chó nuôi trong nhà. Trong văn chương Trung Hoa, “cẩu” chỉ con chó chưa trưởng thành.

Những từ ngữ có chữ CẨU trong Hán Việt:

1.- bạch vân thương cẩu: Mây trắng biến thành chó xanh. Ý nói việc đời biến hóa vô thường. Do hai câu thơ của Đỗ Phủ: Thiên thượng phù vân như bạch y, Tư tu cải biến như thương cẩu (Khả thán ) Trên trời mây nổi như áo trắng, Khoảnh khắc biến thành như chó xanh.

2.- cẩu đạo: Ngụy trang thành chó để đi ăn trộm, về sau “cẩu đạo” chỉ kẻ trộm cắp. Sách “Ấu học quỳnh lâm” có câu: Cường kiêm tính giả viết kình thôn, vi tiểu tặc giả viết cẩu đạo (Điểu thú loại ).

3.- cẩu đồ: Người làm nghề giết chó làm thịt. Sau dùng để chỉ người làm nghề thấp kém… (Đồ tể: là nghề giết súc vật – trâu, bò, dê, lợn…- để lấy thịt, thường bị xã hội Trung Hoa và Việt Nam khinh rẻ.)

4.- cẩu hùng: Gấu chó. Còn gọi là hắc hùng; nghĩa bóng chỉ người hèn yếu bất tài.

5.- cẩu mã: Chó và ngựa. Chỉ chung những thú nuôi để vui chơi. Tiếng khiêm tốn của bề tôi xưng với vua ở Trung Hoa xưa, tự nhận mình như chó, ngựa có bổn phận phục dịch cho chủ.

6.- cẩu mã chi tâm: chỉ lòng trung thành tận cùng của bề tôi đối với vua, như chó ngựa báo đáp chủ nhân.

7.- cẩu tặc: Giặc Chó – từ ngữ dùng để nhục mạ người khác là bất trung bất nghĩa. (Cẩu tặc không phải là “kẻ bắt trộm chó” – như báo chí cộng sản Việt Nam hiểu – mà là “giặc chó” như “thiên tặc” là giặc trời, “Tào tặc” là giặc họ Tào (Tháo), “thảo tặc” là giặc cỏ..

8.- cẩu trệ: Chó và lợn, ám chỉ người có hành vi xấu xa bỉ ổi như chó và lợn.

9.- cẩu vĩ tục điêu: lấy đuôi chó nối đuôi điêu. Điêu là động vật thuộc loài chuột rừng xứ lạnh, có bộ lông dài mầu vàng hoặc tía, đuôi to, người ta săn bắt để lấy da choàng cho ấm. Vào đời nhà Hán, các quan hầu cận vua như thị trung, trung thường thị đều đội mũ có gắn đuôi điêu làm ngù. Đến đời Tấn, sau khi cướp được ngôi của Huệ Đế, bè đảng của Triệu Vương Luân đều tự phong khanh tướng, quân hầu và tôi tớ phục dịch cũng được phong quan tước. Phong quá lạm, đuôi điêu không đủ đề gắn lên mũ, nên lấy đuôi chó thay vào. Thành ngữ “cẩu vĩ tục điêu” dùng để chế giễu việc phong tước quá lạm, nên “Điêu bất túc, cẩu vĩ tục”.

Nghĩa bóng: lấy cái kém phẩm chất nối theo cái tốt, trước sau không tương xứng. Thành ngữ này thường dùng trong phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong Kiều có câu “Hay hèn thiếp cũng nối điêu” (câu 1317) Lời khiêm tốn của Thúy Kiều khi họa thơ của Thúc Sinh.

10.- cẩu vĩ thảo: cỏ đuôi chó (latin: Setaria viridis).

11.- chỉ kê mạ cẩu: Trỏ gà mắng chó. Nghĩa bóng: Chửi xéo, chửi bóng gió.

12.- sô cẩu: Ngày xưa lấy rơm cỏ tết thành hình chó dùng khi cúng tế, tế xong thì đem vứt đi. Sau dùng chỉ sự vật tầm thường vô dụng. Đạo Đức Kinh, Lão tử viết “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu” . Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm.

Kiếp xưa ta sống vỏ biền

Ngày nay ta tưởng vỏ biền trong ta.

Cẩu ta thì khác vỏ biền

Nhổ ra  để thấy thân hình nổn nan

Vỏ biền liếm lại tài ba…..

hay:

 Đêm năm canh con mắt như chong:
Đứa đạo tặc nép oai khủng động.
Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,
Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.

Share.