Wednesday, August 12 Bitcoin là gì? Có nên đầu tư vào bitcoin hay không?

Đọc Khung Cửa Hẹp của André Gide – Khánh Lan

Khung cửa hẹp
Khánh Lan

André Gide (1920-1951)
“Con hãy gắng tiến vào, qua khung cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang dẫn đến nơi tai họa, đến chỗ trầm luân… Có biết bao kẻ đã đi qua rồi, nhưng nhỏ hẹp mới là khung cửa, là con đường dẫn tới Đời Sống, và rất ít kẻ tìm ra”.
Có lẽ lời dạy trong Kinh Thánh của vị Mục sư Vautier giảng tại ngôi nhà thờ nhỏ mà Alissa và Jérôme đến nguyện cầu gần mười năm về trước đã khắc cốt ghi tâm trong trí óc của Alissa từ thuở ấy.  Trong tác phẩm“Khung cửa hẹp”, André Gide đã tạo ra một Alissa hiền thục, trầm lặng, vâng lời và nhịn nhục.  Nàng được sinh ra và dưỡng nuôi trong một môi trường rất hạn hẹp, một thế kỷ mà người ta đã đặt nền tảng chân lý, đạo đức và tôn giáo lên hàng đầu.  Có nghĩa rằng, bổn phận và trách nhiệm với đại chúng, với gia đình đã đánh bại những tư lợi riêng tư của chính mình.  Điều nầy đã thể hiện rõ ràng qua lời văn của André Gide, diễn tả rõ ràng trong cuốn tiểu thuyết “Khung cửa hẹp”.
Xét ra, cả thời thơ ấu và lớn lên của Alissa, nàng chỉ biết có một khuôn khổ nhỏ hẹp mà người ta đã vẽ sẵn cho nàng.  Niềm ước mơ, nỗi sung sướng và cả một chân trời hạnh phúc, mới lạ mà nàng có thể hình dung và tìm thấy được cũng chỉ ở trong cái phạm vi nhỏ bé, giới hạn bởi một “Khung cửa hẹp”.  Phải, cái lối thoát duy nhất mà Alissa đã tìm thấy, đó là tình yêu cuồng nhiệt mà Jérôme đã dâng hiến cho nàng.  Cái tình yêu quá tuyệt diệu mà Alissa muốn giữ mãi trong lòng với hy vọng là nó sẽ tồn tại muôn đời và chẳng bao giờ phai nhạt… Nàng không muốn chiếm đoạt nó để rồi vụt mất khỏi tầm tay, nàng không muốn thoát ra khỏi khung trời hạnh phúc nhỏ bé mà nàng đang được hưởng, trọn vẹn, dù biết rằng, nó rất hẹp.
Alisa đã yêu tha thiết, tưởng chừng như không thể sống được nếu thiếu Jérôme, nhưng rồi cũng chính nàng đã đẩy cái hạnh phúc mong manh ấy ra khỏi tầm tay của mình, bởi nỗi sợ hãi mơ hồ giữa hư và thực, thực và hư.  Nàng đã theo đúng như lời giảng dạy trong thánh kinh ghi lại:  “Nhỏ hẹp mới là khung cửa, là con đường dẫn tới đời sống hằng hữu”.  Chính vì thế, mà Alissa đã sẵn sàng hy sinh tình yêu đích thực và độc nhất của mình cho em gái, Juliette vui tươi, hồn nhiên và sống động.  Nàng đã làm tròn bổn phận của người chị cả thay hai em nuôi dưỡng cha già…và sau cùng … chấp nhận cái chết trong đơn độc … với một tâm hồn cao thượng phi lý nhưng trinh bạch.  Alissa đã dâng cả trái tim không vẩn đục của mình cho người anh họ mà nàng đã yêu tha thiết và cho đến những ngày tận cùng của đời cuộc mình.   Để vẫn nhận tưởng rằng nàng đã bảo vệ trọn vẹn mối tình yêu cao quý ấy cho riêng mình … cái thánh giá ngọc xanh được nàng đeo trên cổ, đã chứng minh tấm chân tình mà nàng đã dành cho Jérôme yêu dấu, hình bóng chàng sẽ mãi mãi ngự trị trong tim nàng…
Mặt khác, chúng ta thấy bên cạnh Alissa, Jérôme là một người cũng từng được sinh ra và dạy dỗ trong một môi trường chẳng khác gì Alissia, có khác chăng là chàng đã có cơ hội vượt qua “Khung cửa hẹp”, để tiến bước vào con đường rộng thênh thang đầy hứa hẹn, dù biết rằng nó sẽ dẫn mình đến một chân trời cay nghiệt, nhiều chông gai và thử thách, nhiều tai họa và trầm luân.   Đúng, sau những năm dài xa nhà và gia nhập quân đội đã biến một Jérôme nhút nhát, nhu nhược thành một con người mới, với những tư tưởng rộng mở, suy nghĩ phóng khoáng và tâm hồn hướng ngoại.  Nhưng không có nghĩa là Jérôme quên cái quá khứ đã nuôi nấng và tạo dựng nên chàng cũng như lời giao ước năm xưa cùng người tình Alissa.  Đó là lý sự thủy chung, chấp nhận sự vô lý trong giáo điều, để nuôi nấng một mối tình thanh cao nhưng vô vọng, đẹp nhưng đầy mộng ảo.  Những cảm xúc mơ hồ Không đích thực ấy đã đẩy Alissa và Jérôme vào một thế giới riêng, một mặc cảm tội lỗi khiến họ cứ tiếp tục đi song song mãi trên đường đời mà chẳng bao giờ gặp nhau.  Họ không tìm ra được điểm tâm đắc trong tư tưởng, ngoại trừ sự hỗ trợ lẫn nhau trong khung cửa luân lý, hứa hẹn một đời sống thanh cao trong sạch.  Làm sao có thể kết hợp hai tâm hồn không cùng hướng đi, không đồng nhất trong suy tưởng.  Một người tự buộc khép mình vào quy luật giáo điều và một người thi cố gắng vượt thoát ra khỏi cái vòng cuồng tín ấy.  Mặc dù họ cùng chung một nhịp đập của con tim.
Dường số phận và sức mạnh siêu nhiên đã trói buộc cả bốn nhận vật trong truyện vào con đường không lối thoát.  Alissa, Juliette, Jérôme và Abel đều là nạn nhân của một nền văn hóa thủ cựu, trói buộc họ vào nhau bởi một mạng lưới vô hình và phúc tạp:  Alissa yêu Jérôme say đắm, nhưng tư tưởng tồn cổ và niềm tín ngưỡng nghiêm khắc, đã ngự trị và ăn sâu vào tiềm thức của Alissa khiến nàng tự tạo nên một bức tường ngăn cách cảm xúc tự phát của mình với Jérôme.  Abel cũng chẳng khá hơn, anh ôm ấp một tình yêu đơn độc và khép kín, để lại chuốc lấy đau thương khi Juliette nhận lời lấy người đàn ông nàng không hề có cảm tình, để tìm quên người yêu của chị mình … Định mệnh thật éo le và quá khắt khe với họ…nói cho đến cùng, họ đều là những người bất hạnh và niềm hạnh phúc thực sự chẳng thuộc về ai.  Phải chăng, có một tác giả đã từng viết:  “Et que la vie peut souffler dessus chaque jour sans l’éteindre”.  (ngày ngày ngọn gió đời vẫn thổi nhưng chưa bao giờ thổi tắt được tình yêu).
Tham luận tác phẩm:
Khung cửa hẹp không những được coi là một cuốn tiểu thuyết kinh điển mà còn là một trong những tác phẩm nổi tiếng trên thế giới của văn Hào Pháp André Gide.  Cuốn tiểu thuyết được dịch giả Bùi Giáng dịch sang Việt ngữ, xuất bản bởi NXB An Tiêm năm 1966.  Năm 1946, André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947.  Đây là một cuốn tiểu thuyết viết về tình yêu lãng mạn, để cao lòng trinh bạch, sự hy sinh và những đấu tranh nội tâm giữa cõi thực và hư vô trong đạo giáo của xã hội Tây Phương thời ấy.  André Gide đã dùng một lối viết cầu kỳ, ngôn ngữ khó hiểu, nó kén chọn người đọc ở một trình độ cao và thấu hiếu về lý thuyết đạo giáo cũng như triết học hiện sinh và lý thuyết nhân sinh quan.
Theo nhận định của tác giả Thư Vĩ đăng trên báo Thể thao & Văn hóa thì Hạnh phúc không phải là sự hoài vọng ở ngày mai, mà nó là sự cố gắng vô cùng vượt bực để đạt được những ước nguyện cá nhân.  Phải chăng “Chẳng có thành công nào mà không mua bằng nhiều vất vả kiên tâm, chẳng có khung cửa thênh thang nào đón đợi và trao sẵn cho ta một điều kỳ diệu may mắn cả cuộc đời”… Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả Thư Vĩ rằng:  Mỗi chúng ta đều mang trong tiềm thức một “khung cửa hẹp”, còn đối diện với nó như thế nào lại là sự nhận thức và quyết định của riêng từng cá nhân…
Có nhiều tài liệu ghi nhận rằng:  André Gide đã bị ảnh hưởng bởi văn chương cũng như thi ca của Johann Goethe, Fyodor Dostoevsky, Rabindranath Tagore, Stéphane Mallarmé, Frédéric Nietzsche:  ” If God does not exist, everything permitted on earth…When God and the devil are fighting there and the battlefield is the heart of men”. (Nếu Thượng Đế không tồn tại, mọi thứ đều được phép trên trái đất…Khi thần thánh và ma quỷ xung đột nhau ở nơi đó mà chiến trường chính là tâm hồn của con người).
Một giả thuyết khác được đặt ra để chúng ta nhận định.  Phải chăng chính sự giáo huấn gò bó, nghiêm khắc theo giáo lý tôn chỉ trong gia đình và những uẩn khúc trong tiềm thức, những khúc quanh của cuộc đời và những hồi tưởng lại mối tình đầy ngang trái của ông và người em họ Madeleine Rondeaux đã được thuật lại và gói ghém tài tình trong tác phẩm Khung cửa hẹp.  Có phải đây là một động lực thúc đẩy khiến André Gide tạo dựng nên một Alissa thu mình trong khung cửa hẹp, nằm chết lạnh giữa tư tưởng tôn giáo, đè nén xúc cảm, chối bỏ tình yêu của mình để hy sinh cái hạnh phúc duy nhất ấy cho người khác và một Jérôme luôn luôn phải đấu tranh giữa những tư tưởng tồn tại trong mình với khung cửa hẹp luân lý dẫn tới đời sống thanh giáo trong sạch.   Điều này cho ta thấy một sự trùng hợp ngẫu nhiên trong tác phẩm Đoạn Trường Tâm Thanh của thi hào Nguyễn Du.  Ông đã vẽ ra hình tượng một Thúy Kiều hồng nhan bạc mệnh, trải qua nhiều đoạn trường bi thảm vì định mệnh đã an bài, lễ nghi trói buộc, xã hội khắt khe và một Kim Trọng sống trong day dứt giữa tư tưởng khát khao tình yêu bên trong với Thúy Kiều và trách nhiệm, bổn phận làm chồng theo quy luật đạo giáo với Thúy Vân.  Đó là phương diện đạo lý.
Về phương diện suy tưởng, tâm linh André Gide cũng như Nguyễn Du đều phối hợp tư tưởng của họ qua hai lãnh vực trong văn chương của họ:  Hư vô và vĩnh thể mà chúng ta thấy ở triết lý Lão Tử, Trang Tử, Phật Thích Ca, Khổng Tử, Perménide, Homère aède Hy-Lạp và Mahatma Gaudhi…Theo quan niệm của đạo Phật:  “Cuộc sống của một con người là đau khổ với sinh lão bệnh tử ái biệt ly, oán tăng hội cầu bất đắc…Thế gian là cõi tạm,  cuộc sống là vô thường, biến hoại không hẳng hữu…là hư vô,  là không thật, là hữu hạn,  là biến đổi không ngừng…đời chỉ là cõi tạm…là chỗ nghỉ chân…là quán trọ trần gian “..
Đó là thế giới của văn Hào Pháp André Gide.
Tiểu sử và sự nghiệp văn chương:
Theo tài liệu, André Gide sinh ngày 22/11/1869 tại Paris, trong một gia đình trung lưu theo đạo Tin lành.  Mồ côi khi ông mới 11 tuổi, André Gide được mẹ nuôi và dạy dỗ trong một môi trường nghiêm khắc theo mô hình Thanh Giáo.  Tuy vậy, lối giáo đục khắt khe ấy cũng không mạnh đủ để dập tắt được bản năng nổi loạn trong André Gide vốn là đứa trẻ cứng đầu, nhạy cảm, sống theo bản năng.
Chiến tranh, bệnh tật (lao phổi), nhất là khi phát hiện ra mình là người đồng tình luyến ái ở tuổi 26 (1894) và mối tình lãng mạn với người em họ Madeleine Rondeaux từ khi ông mới 12 tuổi khiến ông bị rối loạn cảm xúc.  Khi trưởng thành, André  Gide vẫn trân trọng và cưới Madeleine Rondeaux nhưng đồng thời không dừng chạy theo những mối tình đồng giới và có con với một người phụ nữ khác.
Về sự nghiệp văn chương, ngay khi còn là học trò trung học, André Gide đã quyết định cống hiến trọn đời cho nghệ thuật.  Sáng tác đầu tay của ông là cuốn tự truyện Les cahiers d’André Walter (Những cuốn vở của André Walter, 1891) ở tuổi 21, một tác phẩm viết bằng thơ và văn xuôi, kể về sự giằng xé, giày vò giữa thể xác và tâm hồn, tìm kiếm lối thoát trong các hình thái thần bí và thanh cao của tình yêu, sự khủng hoảng tâm lý, sự bất ổn tinh thần.  Tác phẩm này đã gây chú ý với lối viết phóng túng, phơi bày không chút giấu giếm những ham muốn vô luân, những nhục dục thấp hèn, những biến động mạnh mẽ trong tâm hồn, khiến người đọc sửng sốt với những sự thật được đưa ra ánh sáng dưới cái nhìn của một kẻ phi đạo đức.  Những kiếm tìm chân lý được ghi nhận trong truy tác phẩm Le Retour de l’Enfant prodigue (Đứa con đi hoang trở về, 1907).  Nhưng chính sự ngang ngạnh này mang tới cho nhà văn những hoài bão, dù phải đương đầu với nhiều chông gai, phê phán, dị nghị của xã hội.  Ông vẫn kiên tâm để tìm ra chân lý và chính con người mình.  Ông đã viết:  “Hãy thành thật với những thứ tồn tại bên trong mình”.  Đây là cuộc cách mạng trong tâm tưởng của André Gide về những khủng hoảng, giằng xé, sự thần bí và thanh cao trong tình yêu. Tiếp theo sau là tác phẩm “Kẻ vô luân”, mà những nhân vật trong truyện đều mang bóng dáng cuộc đời ông, đã gây chấn động trong thế giới học thời bấy giờ và để ngoài tai những lời khuyên của bạn bè.  Trong lời giới thiệu cho tác phẩm Kẻ vô luân André Gide viết: “Câu chuyện tôi kể ra đây, tôi đã hồi tưởng lại bằng cả tâm hồn”.
Như con thiêu thân, Gide lao vào những cuộc sa đọa trác táng và không ngần ngại phô bày trên trang giấy.  Nhiều người đã lên án André Gide kịch liệt, nhưng không vì thế mà chùn bước chân ông, ông vẫn trung thành với bản chất con người, coi thường những hình thức phù phiếm, giả tạo.  Không những thế ông còn nâng cao tầm quan điểm của mình lên thành triết lý trong Kẻ vô luân, kể về Michel, kẻ vượt qua mọi rào cản đạo đức trong hành trình nổi loạn để khám phá con người thật của mình.  Mặc dù vậy, trong tâm André Gide vẫn văng vẳng tiếng Phúc âm cầu sám hối. Trong tác phẩm Bọn làm bạc giả.  Tiếp theo sau là tác phẩm “Kẻ vô luân”, mà những nhân vật trong truyện đều mang bóng dáng cuộc đời ông, đã gây chấn động trong thế giới học thời bấy giờ và để ngoài tai những lời khuyên của bạn bè.  Trong lời giới thiệu cho tác phẩm Kẻ vô luân André Gide viết: “Câu chuyện tôi kể ra đây, tôi đã hồi tưởng lại bằng cả tâm hồn”.
Nhưng cũng chính sự ngang ngạnh này mang tới cho nhà văn những hoài bão lớn, nhưng cũng nhiều chông gai, phê phán,  di nghị để tìm ra chân lý và chính con người mình.  Chính ông đã viết:  “Hãy thành thật với những thứ tồn tại bên trong mình”.  Đó là cuộc cách mạng trong tâm tưởng của mình về những khủng hoảng, giằng xé, sự thần bí và thanh cao trong tình yêu.  Năm 1908, ông trở thành người đồng sáng lập Tổng quan mới của nước Pháp, một trong những tạp chí có ảnh hưởng đối với sự phát triển nền văn học Pháp và thế giới.
Tiểu thuyết châm biếm Les Caves du Vatican (Những động ngầm dưới Vatican, 1914) về sự chấp nhận một cách mê muội những tín ngưỡng và lý tưởng. Năm 1926, tiểu thuyết Les Faux-monnayeurs (Bọn làm bạc giả) ra đời mang lại nhiều thành công cho ông, đó là một đóng góp thực sự vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết.  Năm 1927, tác phẩm Thésée (Theseus, 1946) xuất bản được coi như một bức di thư văn học – André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947.  Trong diễn văn trao giải Nobel Văn học năm 1947, ông Anders Osterling, Thư ký thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển cho rằng những người công kích đã nhầm lẫn về khái niệm phi đạo đức.  Rằng thực ra, “Thuyết Phi đạo đức chỉ đề cập tới những hành động tự do, là sự giải phóng khỏi những dồn nén lương tâm”, chứ Gide không phải người cổ xúy cho những thói buông tuồng sa đọa.  Giải Nobel năm 1947 đã trả lại cho Gide giá trị là một nhà văn kiệt xuất, với kiến thức uyên bác và nghệ thuật viết vượt bậc, và trên tất cả, là người dám đối đầu với những vấn đề của con người bằng cái nhìn chân thực không sợ hãi và sự thấu đáo về tâm lý nhân vật.
Những nhà hiện sinh Pháp nổi tiếng (và sau đó đều giành giải Nobel) là Albert Camus và Jean-Paul Sartre đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ André Gide.  Năm 1950, André Gide xuất bản tập cuối cùng của bộ Journal (Nhật ký).  André Guide qua đời ngày 19/02/1951 tại Paris trong sự ngưỡng mộ của toàn thế giới (Thư Vĩ, Thể thao & Văn hóa).

Khánh Lan

Share.

Leave a Reply