Thursday, May 13 Bitcoin là gì? Có nên đầu tư vào bitcoin hay không?
Tháng Tư này lại nhớ tháng tư xưa.Tháng Tư năm đó, được gọi là “Tháng Tư Đen”, đen đến nỗi mặt trời buồn cũng đen luôn. Mặt trời đen, quá đen, đen như đời ta Đời hằng mong thoát đi, đi khung trời xa Đời buồn mong quên hết, ta mong quên hết.Vứt đi bao âu sầu luôn tìm nơi nương náu.Sao ta vẫn thấy mặt trời đen, đen như mực.đen như đêm ma quái. Ah. ha ha ha…

Tháng Tư năm đó, Sau khi 6 tỉnh Cao nguyên và 8 miền tỉnh miền Trung bị lọt vào tay CSBV, để ngăn chận địch quân tràn chiếm hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, thành lũy cuối cùng của Quân khu 2, Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực VNCH đã quyết định giao cho Quân đoàn 3 lập tuyến phòng thủ bảo vệ hai tỉnh này. Để có sự chỉ huy thống nhất, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ thị cho Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3 & Quân Khu 3, thành lập Bộ tư lệnh Tiền phương Quân Đoàn 3 tại Phan Rang và Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi được Tổng thống Thiệu cử làm Tư lệnh phó Quân Đoàn 3, trực tiếp chỉ huy Bộ Tư lệnh Tiền phương của Quân đoàn này. Vào thời gian đó, Trung Tướng Nghi là Chỉ Huy Trưởng trường Bộ Binh Thủ Đức, ông cũng đã từng giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 4 & Quân khu 4 từ tháng 5/1972 đến 11/1974 sau khi đã giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh gần 4 năm (từ tháng 6/1968 đến tháng 5/1972).Ngày 2/4/1975 lúc 2 giờ chiều,Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh QĐ3 đến thăm Thị Xã Phan Rang và để xác nhận Phan Thiết & Phan Rang sát nhập vào Quân đoàn III, và trở thành cứ điểm cực Bắc của Quân đoàn..

Ngày 4/4/1975 Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chính thức đến Phan Rang cùng với toán truyền tin kiểm thính đặc biệt thuộc Phòng 7 TTM, nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang, và thiết lập Bộ chỉ huy Tiền Phương trong căn cứ của Sư đoàn 6 Không quân, nằm vào lối 5km Bắc Tây Bắc của Thị xã Phan Rang. Ông cho biết là đã được thượng cấp chấp thuận gửi ra một số đơn vị chưa bị ảnh hưởng của việc rút quân để giữ Phan Rang. Bởi tin tưởng vào lời hứa hẹn này, nên Ông rất vui lòng đảm nhận chức vụ.

“Tin Tưởng”!? Từ khi Cụ Ngô Đình Diệm trở về nước chấp chính, tiếp nhận quân đội quốc gia từ thực dân tây, Cụ vẫn giữ khái niệm căn bản là “quân đội không được can dự vào chính trị” cho nên hầu hết các tướng lãnh nồng cốt sau này không cần biết “chính trị” là gì. Tướng Nghi tin tưởng vào lời hứa hẹn của thượng cấp để nhận lãnh trách nhiệm phải đượng đầu với địch quân với “hào khí ngất trời” với lực lượng gồm bốn (4) SĐ chính quy bắc việt (SĐ10, SĐ325, SD68, SĐ3, Chiến Xa, Trọng Pháo hạng nặng) so với lực lượng  què quặt trong tâm trạng hoang mang không còn nhuệ khí chiến đấu khi QK I và QK II đã bị kiểm soát của bắc quân (LĐII ND, LĐ31 BĐQ, Trung Đoàn 4 và 5 của SĐ2BB, 4 TĐ ĐPQ ), và lẽ đương nhiên kết thúc bởi một sự bi thảm của tháng tư đen.

Kết thúc bi thảm đó được thể hiện qua vài cuộc đàm thoại vô tuyến sau đây.

Ngày 4/4/1975 Tướng Lê Quang Lưỡng đang bay trên vùng trời Phan Rang cố liên lạc với Đại Tá Nguyễn Thu Lương Lữ Đoàn Trưởng Lữa Đoàn II Nhảy Dù 

– 207…207…207…tôi muốn đáp xuống 207…207….nghe được Lê Lợi trả lời.

Sự im lặng vẫn bao trùm trong lo âu nghẹt thở. Cuối cùng nhận được sự trả lời của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành tự Thành Râu, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 ND

–  Trình Lê-Lợi, còn gì để đáp xuống, phi trường đã bị tràn ngập..

–  Anh bảo Ông Lương cố gắng cầm cự, tôi sẽ về SàiGòn tăng cường quân ra.

Khoảng 6 giờ sáng, trời còn mờ sương, anh lính truyền tin trao ống liên hợp cho ĐT Lương đang trên đường bôn tẩu. Từ trên không, một chiếc L19 của Quân đoàn III đang bay lượn vòng vòng phía bờ biển và gọi máy liên tục. Ông trả lời và xưng danh hiệu; vị sĩ quan trên máy xưng là Đại úy Tango (nghĩa chữ T đứng đầu tên), và đồng thời yêu cầu chuyển sang tần số giải tỏa …

Sau khi xác định mật hiệu, Tango đã biết chính là LĐT/LĐ2ND và vị trí điểm đứng. Anh ta hỏi có bao nhiêu người, ĐT Lương trả lời chỉ phỏng đoán khoảng 250 người. Đại úy Tango cho biết có 22 trực thăng chở quân, và mỗi chiếc chở được tới 14 người. Vì tất cả chỉ còn súng và ít đạn với mấy vật dụng sơ sài như Poncho, ba lô đựng ít lương khô, nên có thể chở được 14 người.

 Đại úy “T” cho biết phải sẵn sàng trước 7 giờ sáng ngày hôm sau. Rồi chiếc phi cơ quan sát rời vùng; đoàn quân di tản được phân phối, xếp mỗi toán 14 người theo thứ tự hàng dọc để trực thăng dễ bốc. Chiếc cuối cùng sẽ bốc quân gần sát bờ sông Quao (trong đó có Đ/T Lương và 2 nhân viên truyền tin, tất cả 14 người này đều là quân Dù).

Khoảng 40 phút sau, phi cơ quan sát trở lại, Đại úy “T” hỏi Đại tá Lương cho biết vị trí của Tướng Nghi và Tướng Sang đang ở đâu? ĐT Lương trả lời: “Đã thất lạc từ đêm hôm qua, tại khu rừng mía, để về đến nơi tôi sẽ trình bày chi tiết”…

Mười lăm phút sau, từ trên phi cơ Đại úy “T” truyền xuống cho biết lệnh của tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III (Nguyễn Văn Toàn): “207 (danh hiệu truyền tin của ĐT Lương) phải trở lại kiếm hai ông Three Stars Nectar và One Star Sierra; nếu không thi hành khi về sẽ ra toà án quân sự và sẽ không còn 3 bông mai bạc nữa đâu!!!”

Lúc đó Thiếu tá Đông ( một SQ bộ binh ) và tất cả các quân nhân sĩ quan, HSQ, và binh sĩ đứng gần đều nói:

– Đại tá cứ về, việc làm suốt ngày và đêm hôm qua chúng tôi đều biết, nếu có phải ra tòa án, chúng tôi sẽ cùng ra làm chứng … Chúng ta đã làm hết sức, mà không đạt được thì đành chịu thôi!”

Thực tế ông đâu có bỏ chạy một mình, đã đưa 2 vị ấy ra khỏi phi trường; rồi đi bộ suốt ngày mới tới Cà Ná. Và chính Tướng Nghi cũng đã từ chối không cho trực thăng xuống bốc BTL Tiền phương và SĐ6KQ 

Suy nghĩ một lúc, Đ/T Lương gọi máy nói với Đại úy Tango ở trên phi cơ L19 là: 

– Tôi và một số quân nhân Dù sẽ trở lại vùng chạm địch hôm qua để dò la và tìm 2 vị Tướng. Tôi yêu cầu cho trực thăng bốc tất cả hơn 200 người hiện đang đứng với tôi về QĐ3 để họ trình bày với Trung tướng Tư lệnh.

Kết quả bi thảm đó là tất cả tướng tá của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Tướng Quế Công Công bị còng tay và dẫn độ về trại Đầm Đùn, để rồi từ đó lê lết kéo dài cuộc sống với một nỗi căm hờn trong cũi sắt, đếm từng tháng tư qua dưới ánh mặt trời đen như mực. 

Thời điểm đó “xạo sự tôi” chỉ là một sĩ quan cấp úy lẹt đẹt, chi biết thi hành lệnh mà không được thắc mắc hay khiếu nại lôi thôi gì cả. Hay không bằng hên. Cái “hên” của tôi là không có dịp may bằng vàng để cùng LĐ II ND đi Phan Rang, vì được lệnh cuối cùng ở lại hậu cứ thành lập tiểu đoàn tân lập. TĐ17 ND. Đi Phan Rang để có dịp hưởng lao động ở chốn “rừng thiêng” và uống nước độc. Hên là còn ở lại hậu cứ để có dịp chứng kiến cảnh đau lòng con quốc quốc khi tận mắt nhìn thấy các quan to mặt bự ngày hôm trước ra lệnh thuộc cấp “phải ở lại”, nếu không thi hành khi về sẽ ra toà án quân sự và sẽ không còn 3 bông mai bạc nữa đâu, nay thì tay dắt díu vợ con, tay thì giữ chặt cái vali “hồ sơ mật” leo lên máy bay dông mất. Ba mai bạc của Đại Tá Nguyễn Thu Lương vẫn còn giữ trong cái túi cái bang ở vùng Hoàng Liên Sơn tây bắc, ba ngôi sao bạc của tướng Quế Công Công bị chôn vùi trong huyệt mộ lưu xú vạn niên.

Thế sự du du…chỉ muốn nói một chữ đù…”

Thân Kính Chúc Một Ngày Bình An

Út Bạch Lan E22

Share.

Leave a Reply